Hoạt động xây dựng đô thị quy mô lớn là nguồn phát thải đáng kể, đồng thời cũng là khu vực có dư địa giảm phát thải lớn của ngành Xây dựng. Ảnh minh hoạ, nguồn: ITN.
Thiếu công cụ kỹ thuật trong giảm phát thải
Ngành công trình và xây dựng hiện được xác định là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất, chiếm khoảng 32 - 34% tổng tiêu thụ năng lượng và khoảng 34% lượng phát thải CO₂ liên quan đến năng lượng trên phạm vi toàn cầu (năm 2023).
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, NDC cập nhật năm 2022 xác định tổng mức giảm phát thải toàn nền kinh tế đến năm 2030 đạt 146,3 triệu tấn CO₂ tương đương (15,8%) theo kịch bản không điều kiện và 403,7 triệu tấn CO₂ tương đương (43,5%) theo kịch bản có điều kiện.
Trong cơ cấu này, ngành năng lượng, bao gồm tiêu thụ năng lượng trong công trình xây dựng, chiếm tỷ trọng giảm lớn nhất, với mức đóng góp 227,0 MtCO₂e trong kịch bản có điều kiện, đặt ra yêu cầu rất cụ thể đối với lĩnh vực xây dựng.
Phát thải trong xây dựng hình thành ngay từ khâu thi công và vật liệu, trong khi công cụ quản lý hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào giai đoạn vận hành công trình. Ảnh minh hoạ, nguồn: ITN.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất trong quản lý nhà nước hiện nay không nằm ở việc thiếu mục tiêu, mà là thiếu các công cụ kỹ thuật đủ cụ thể để chuyển hóa mục tiêu giảm phát thải vĩ mô thành kết quả đo lường được ở cấp công trình.
Trong bối cảnh đó, các hệ thống chứng nhận công trình xanh như EDGE, LEED, LOTUS được áp dụng ngày càng nhiều tại Việt Nam, song vẫn chủ yếu được nhìn nhận như một cơ chế tự nguyện, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả thực tế đối với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của ngành Xây dựng.
Một nghiên cứu của Viện Khoa học công nghệ xây dựng (IBST) tiếp cận vấn đề này thông qua phân tích bộ dữ liệu tổng hợp từ các dự án công trình xanh tại Việt Nam, trong đó so sánh các chỉ tiêu môi trường dự báo ở giai đoạn thiết kế sơ bộ với kết quả xác nhận sau hoàn công. Phạm vi dữ liệu tập trung vào 3 nhóm chỉ tiêu chính: (i) hiệu quả sử dụng năng lượng, (ii) hiệu quả sử dụng nước, (iii) và mức giảm carbon hàm chứa trong VLXD. Cách tiếp cận này cho phép đánh giá trực tiếp mức độ hiện thực hóa các tiêu chí công trình xanh trong vận hành thực tế, thay vì chỉ dừng ở cam kết thiết kế.
Vật liệu xây dựng quyết định dư địa giảm phát thải
Kết quả của nghiên cứu của IBST cho thấy, đối với nhóm chỉ tiêu năng lượng, trụ cột quan trọng nhất trong lộ trình giảm phát thải của ngành Xây dựng, mức tiết kiệm năng lượng trung bình sau hoàn công đạt 32%, đúng bằng mức dự báo ở giai đoạn thiết kế sơ bộ.
Các biểu đồ phân tán trong nghiên cứu cho thấy, phần lớn các điểm dữ liệu tập trung sát đường y = x, phản ánh mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa giá trị dự báo và giá trị thực tế. Điều này chứng minh rằng, các công cụ mô phỏng năng lượng và các yêu cầu kỹ thuật trong hệ thống chứng nhận công trình xanh có độ tin cậy cao, đủ khả năng làm cơ sở cho việc đo lường và theo dõi hiệu quả giảm phát thải trong vận hành công trình.
Mối tương quan giữa chỉ tiêu tiết kiệm dự báo và kết quả sau hoàn công đối với năng lượng, nước và vật liệu xây dựng trong các công trình xanh tại Việt Nam. Nguồn: IBST.
Đối với tài nguyên nước, dữ liệu thực nghiệm cho thấy, mức tiết kiệm nước trung bình sau hoàn công đạt 34%, cao hơn mức dự báo ban đầu là 31%. Sự chênh lệch dương này cho thấy trong quá trình triển khai, nhiều dự án đã lựa chọn thiết bị và giải pháp có hiệu suất cao hơn so với giả định trong mô hình thiết kế.
Mặc dù tiết kiệm nước không trực tiếp được quy đổi thành lượng CO₂ giảm phát thải tại công trình, nhưng nghiên cứu chỉ rõ tác động gián tiếp thông qua việc giảm năng lượng cho bơm, vận chuyển, xử lý nước đô thị và giảm nhu cầu đun nước nóng tại chỗ. Với mức tiết kiệm trên 30%, nhóm giải pháp về nước cho thấy đóng góp thực chất vào mục tiêu giảm phát thải gián tiếp của ngành Xây dựng.
Đáng chú ý, kết quả nổi bật nhất của nghiên cứu nằm ở nhóm chỉ tiêu liên quan đến VLXD và carbon hàm chứa. Dữ liệu cho thấy mức giảm carbon hàm chứa trong vật liệu sau hoàn công đạt trung bình 47%, cao hơn đáng kể so với mức dự báo ban đầu là 35%.
Mặc dù các điểm dữ liệu ở nhóm chỉ tiêu này có độ phân tán lớn hơn so với năng lượng và nước, xu hướng chung vẫn thể hiện rõ việc kết quả thực tế thường vượt dự báo. Nghiên cứu lý giải hiện tượng này bằng việc tối ưu hóa trong quá trình thi công và khả năng tiếp cận các loại vật liệu phát thải thấp hiệu quả hơn so với giả định ban đầu.
Vật liệu xây dựng, đặc biệt là thép và bê tông, đóng vai trò chi phối phát thải carbon hàm chứa trong toàn vòng đời công trình. Ảnh minh hoạ, nguồn: ITN.
Phân tích vòng đời công trình (WBLCA) trong nghiên cứu cho thấy vai trò chi phối của vật liệu đối với phát thải toàn vòng đời. Cụ thể, giảm carbon hàm chứa thông qua lựa chọn vật liệu giúp giảm tới 22% lượng phát thải, trong khi các giải pháp nâng cao hiệu quả năng lượng chỉ giúp giảm khoảng 3% carbon vận hành.
Tổng hợp cả vòng đời công trình, mức giảm phát thải đạt khoảng 4%, trong đó phần lớn đến từ nhóm giải pháp vật liệu. Những con số này cho thấy, nếu chỉ tập trung vào vận hành công trình mà bỏ qua vật liệu và vòng đời, ngành Xây dựng sẽ bỏ lỡ dư địa giảm phát thải lớn nhất của mình.
Cần dịch chuyển quản lý sang vật liệu xây dựng
Các kết quả định lượng trên mang lại những hàm ý quan trọng đối với quản lý nhà nước. Trước hết, dữ liệu cho thấy các hệ thống chứng nhận công trình xanh đã chuyển hóa được mục tiêu giảm phát thải ở tầm chính sách thành kết quả định lượng ở cấp công trình, với các chỉ số cụ thể như tiết kiệm năng lượng 32%, tiết kiệm nước 34% và giảm carbon hàm chứa vật liệu 47%. Đây là điều kiện cần để công trình xanh được nhìn nhận như một công cụ kỹ thuật triển khai chính sách, thay vì chỉ là sáng kiến tự nguyện mang tính khuyến khích.
Một hàm ý chính sách quan trọng khác là sự cần thiết phải dịch chuyển trọng tâm quản lý từ vận hành sang vật liệu và vòng đời công trình. Trong khi hệ thống quản lý hiện nay chủ yếu tập trung vào hiệu quả sử dụng năng lượng khi công trình đi vào vận hành, dữ liệu nghiên cứu cho thấy VLXD mới là yếu tố quyết định mức giảm phát thải lớn nhất. Nếu không từng bước đưa phát thải hàm chứa và đánh giá vòng đời vào hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và công cụ quản lý, mục tiêu giảm phát thải của ngành Xây dựng sẽ khó đạt được một cách toàn diện.
Bên cạnh đó, mức độ phù hợp cao giữa dữ liệu dự báo và dữ liệu sau hoàn công cho thấy các tiêu chí công trình xanh có tiềm năng cung cấp dữ liệu đáng tin cậy cho hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV) của ngành Xây dựng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra một điểm nghẽn lớn là thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải carbon của VLXD sản xuất trong nước, khiến các phân tích vòng đời hiện nay vẫn phải phụ thuộc nhiều vào dữ liệu quốc tế, làm giảm độ chính xác và tính phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Từ các bằng chứng thực nghiệm trên, có thể thấy việc tiếp tục xem công trình xanh chỉ như một cơ chế khuyến khích tự nguyện sẽ làm hạn chế đáng kể vai trò của công cụ này trong thực hiện mục tiêu giảm phát thải của ngành Xây dựng. Trên cơ sở dữ liệu đã được kiểm chứng, nhóm nghiên cứu của IBST cho rằng, cần xem xét tích hợp có chọn lọc các tiêu chí công trình xanh vào quản lý nhà nước, trước hết đối với những nhóm công trình có mức phát thải lớn, đồng thời mở rộng phạm vi quản lý từ năng lượng sang vật liệu và vòng đời công trình.
Song song với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải VLXD là điều kiện then chốt để nâng cao chất lượng quản lý dựa trên dữ liệu và tăng tính khả thi của các công cụ thị trường carbon trong thời gian tới.
Tổng hợp nghiên cứu của IBST cho thấy, công trình xanh không chỉ mang ý nghĩa định hướng mà đã chứng minh được hiệu quả giảm phát thải cụ thể, đo lường được và kiểm chứng được, với các con số thực tế về tiết kiệm năng lượng, nước và đặc biệt là giảm carbon hàm chứa vật liệu. Nếu được tích hợp một cách thận trọng, có lộ trình và gắn với hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, các tiêu chí công trình xanh hoàn toàn có thể trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý nhà nước về xây dựng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của Ngành trong giai đoạn tới.