Chuyển đổi sang vật liệu xanh như gỗ xây dựng đang là xu hướng thiết yếu
Ngành kiến trúc và nội thất hiện đang chịu áp lực ngày càng lớn về giảm phát thải, sử dụng tài nguyên hiệu quả và đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn vật liệu trở thành yếu tố then chốt, đặc biệt khi các xu hướng công trình xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải carbon đang ngày càng rõ nét.
Thông tin về hành lang pháp lý, TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyên Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI cho biết, chính sách pháp luật xanh của Nhà nước và thị hiếu xanh của người tiêu dùng là những yếu tố đang thúc đẩy xu hướng chuyển đổi vật liệu xanh. Trong đó, thị trường EU đang là khu vực dẫn dắt xu hướng xanh toàn cầu. Việc nắm bắt được những chính sách xanh của thị trường này là yêu cầu thiết yếu để nắm bắt được những xu hướng sắp tới của ngành vật liệu Việt Nam.
TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyên Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) phát biểu tại Hội thảo.
Trên thực tế, các quy định như EUDR, CBAM hay ETS đang dần hình thành hành lang pháp lý theo hướng siết chặt việc sử dụng gỗ quý, gỗ bị cấm, đồng thời ưu tiên các loại nguyên liệu có tính hợp pháp cao, dễ truy xuất nguồn gốc như keo, tràm, bạch đàn...
Cùng với đó, xu hướng sử dụng vật liệu gỗ thay thế thép, xi măng trong xây dựng cũng ngày càng rõ nét. Bối cảnh này đã tạo điều kiện cho các dòng vật liệu gỗ kỹ thuật như glulam, CLT, MPP, gỗ composite, gỗ trong suốt hay “siêu gỗ”... có lợi thế phát triển trên thị trường.
Ở góc độ thiết kế và xây dựng, KTS Tạ Đức Quang, Tổng Giám đốc ConsMedia cho rằng, vật liệu thay thế thép và bê tông cần đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí: thẩm mỹ tạo hình, hiệu suất kết cấu, hiệu quả kinh tế và khả năng bảo vệ môi trường.
Trong đó, mass timber (gỗ khối lớn) được đánh giá là vật liệu tiềm năng khi kết hợp được độ bền cơ học tương đương thép với tính linh hoạt của bê tông, đồng thời có thể giúp giảm phát thải tới 40%.
KTS Tạ Đức Quang, Tổng Giám đốc ConsMedia giới thiệu các kiến trúc sử dụng mass timber (gỗ khối lớn) tại Việt Nam.
Trên thế giới, xu hướng chuyển dịch sang vật liệu gỗ kỹ thuật đang tăng tốc. Quy mô thị trường xây dựng bằng gỗ dự kiến đạt 17,7 tỷ USD năm 2025 và có thể vượt 41 tỷ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng gần 10%/năm.
Tại Bắc Mỹ, diện tích sàn xây dựng bằng gỗ đã tăng khoảng 40% chỉ trong một năm. Châu Âu tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, trong khi khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm hơn 30% thị phần.
Tuy nhiên, tại Việt Nam lại tồn tại một nghịch lý, dù xuất khẩu gỗ đạt hơn 15 tỷ USD mỗi năm, ứng dụng gỗ kỹ thuật trong xây dựng vẫn rất hạn chế. Tính đến năm 2024, chỉ khoảng 10 công trình sử dụng vật liệu này và phần lớn cấu kiện vẫn phải nhập khẩu.
Theo Tổng Giám đốc ConsMedia, những rào cản này đến từ sự đứt gãy giữa ý tưởng và quy chuẩn pháp lý, hệ thống tiêu chuẩn xây dựng chuẩn dành riêng cho gỗ khối lớn, quy chuẩn chịu lửa trong vấn đề phòng cháy chữa cháy; tư duy thiết kế cũ, công nghệ ; áp lực chi phí và giá trị bền vững; khoảng chống kiến thức sông và vấn đề về chuỗi cung ứng.
Từ thực tế này, ông Quang đề xuất cần sớm xây dựng hành lang kỹ thuật cho vật liệu gỗ, thúc đẩy số hóa ngành xây dựng, áp dụng mô hình DfMA (thiết kế để sản xuất và lắp ráp), đồng thời chứng minh hiệu quả kinh tế của vật liệu mới. Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu và từng bước hình thành chuỗi cung ứng nội địa.
Ngành gỗ đang tạo sinh kế cho hơn 1 triệu lao động Việt Nam
Tiếp nối nội dung tham luận, trong khuôn khổ Hội thảo đã diễn ra Tọa đàm với chủ đề "Chuyển đổi vật liệu từ chính sách đến kiến trúc". Tọa đàm đã tiếp tục thảo luận các nội dung về các chính sách, quy chuẩn về vật liệu xanh, sinh kế của người dân và dự báo những xu hướng trong việc sử dụng vật liệu xanh.
Phát biểu tại Tọa đàm, ông Võ Quang Hà – Chủ tịch SAWA, Chủ tịch TAVICO Group – nhấn mạnh, xu hướng chuyển đổi vật liệu đang diễn ra trên nhiều cấp độ, từ chính sách, sản xuất đến thiết kế và thi công. Điều này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của các bên trong chuỗi giá trị, trong đó làng nghề là một cầu nối quan trọng.
Toàn cảnh tọa đàm Chuyển đổi vật liệu từ chính sách đến kiến trúc.
"Không chỉ mang lại giá trị xuất khẩu, ngành gỗ hiện còn tạo sinh kế cho hơn 1 triệu lao động Việt Nam. Việc thúc đẩy sử dụng gỗ rừng trồng trong nước không chỉ gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.
Do đó, việc chuyển đổi vật liệu không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là cơ hội thị trường mang tính chiến lược. Nếu tận dụng tốt, đây có thể trở thành động lực tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới cho ngành gỗ và toàn bộ lĩnh vực xây dựng Việt Nam trong thập kỷ tới", ông Hà chia sẻ.
Tập trung vào câu chuyện của các làng nghề gỗ, theo TS Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách, thương mại và tài chính lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends, hiện nay, có khoảng 1 - 1,5 triệu m3 gỗ chảy vào hệ thống các làng nghề, chủ yếu là gỗ có độ rủi ro cao theo quy chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đáng chú ý, các mô hình làng nghề sử dụng gỗ tự nhiên được đánh giá là "đang chết dần" trừ khi có những thay đổi mang tính đột phá. Nếu các làng nghề gỗ biến mất, tổn thất lớn nhất không chỉ là kinh tế mà còn là yếu tố văn hóa và vấn đề an sinh xã hội.
TS Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách, thương mại và tài chính lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends phát biểu tại Tọa đàm.
Trên thực tế, từng có những nghiên cứu và nỗ lực thúc đẩy chính sách mua sắm công để tạo cơ hội cho các sản phẩm từ làng nghề đi vào thị trường bền vững, tuy nhiên kết quả thực tế vẫn còn hạn chế. Làng nghề cần được hỗ trợ về đầu ra, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và tạo giá trị gia tăng để không bị phụ thuộc vào nguyên liệu gỗ tự nhiên bất hợp pháp vốn ngày càng đắt đỏ và khan hiếm.
Để các làng nghề gỗ có thể bắt kịp các xu hướng và tiếp tục tồn tại, ông Nguyễn Minh Cương – Tổng Giám đốc Công ty Gỗ Minh Long nhấn mạnh, việc xây dựng hệ sinh thái làng nghề là giải pháp thiết yếu. Thay vì cạnh tranh lẫn nhau bằng giá, các làng nghề cần tạo ra một hệ sinh thái, nơi mỗi thành viên có sự chuyên môn hóa và bổ trợ lẫn nhau.
Ví dụ, trong một làng nghề, cần có sự phân hóa chuyên môn như đơn vị sản xuất nguyên liệu, đơn vị bảo dưỡng máy móc, đơn vị làm logistics... để cùng chung sống. Các làng nghề có thể theo mô hình "bé hạt tiêu", tập trung vào những sản phẩm nhỏ nhưng có giá trị cực cao, mang tính đặc thù và cảm xúc.
Liên hệ thực tế, ông Cương cho biết các thương hiệu xa xỉ như Hermes vẫn tìm đến nghệ nhân làng nghề truyền thống để đặt hàng, cho thấy tiềm năng nếu biết khai thác giá trị văn hóa.
Trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa, việc tận dụng lực lượng lao động là những người lớn tuổi tại làng nghề được xem là một chiến lược thông minh. Các đại diện nhấn mạnh Nhà nước cần chủ động định hướng, quy hoạch và xây dựng tiêu chuẩn cho làng nghề, từ đó, góp phần phát triển chuỗi giá trị cho ngành gỗ Việt Nam.
Khép lại phiên thảo luận, TS Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách, thương mại và tài chính lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends cho rằng, quá trình chuyển dịch vật liệu và phát triển ngành gỗ bền vững không chỉ là câu chuyện kỹ thuật hay thị trường, mà cốt lõi nằm ở sự thay đổi tư duy và khả năng phối hợp giữa các bên.
Theo ông, từ thực tiễn thảo luận, có thể thấy ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình, nhưng vẫn thiếu những kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách. Việc xây dựng chính sách không thể chỉ đi từ trên xuống, mà cần phản ánh đúng nhu cầu và tiếng nói từ thực tiễn.
TS Tô Xuân Phúc nhấn mạnh, chuyển dịch sang sử dụng vật liệu xanh trong xây dựng là xu thế tất yếu, song để diễn ra nhanh và hiệu quả hơn, cần một hệ sinh thái đủ mạnh, trong đó các chủ thể cùng hành động, cùng chia sẻ và cùng định hình tương lai. Khi đó, ngành gỗ không chỉ dừng lại ở “hợp pháp” hay “bền vững”, mà còn tiến tới tạo ra giá trị ccao hơn cả về kinh tế, cảm xúc và môi trường.