• Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • |
    • Điều lệ Hội VLXDVN
    • |
    • Danh sách Ban chấp hành-Đoàn chủ tịch
    • |
    • Danh sách Hội viên
    • |
    • Hồ sơ xin gia nhập Hội VLXDVN
  • Tin tức
    • Tin tức - Sự kiện
    • |
    • Hội thảo - Hội chợ
    • |
    • Thị trường VLXD
  • Khoa học - Công nghệ
    • Sản phẩm
    • |
    • Công nghệ
  • Văn bản pháp luật
    • Luật - Nghị định
    • |
    • Quyết định - Thông tư
    • |
    • Tiêu chuẩn
  • Thông tin doanh nghiệp
    • Hoạt động của hội viên
    • |
    • Dành cho hội viên
  • Hỏi đáp
    • Gửi câu hỏi
    • |
    • Câu hỏi đã trả lời
  • Liên hệ

Vật liệu xây dựng bước vào cuộc đua giảm phát thải

Tin tức - Sự kiện 11:59 - 13/08/2026
Việc mở rộng danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đang đặt thêm yêu cầu đối với các doanh nghiệp VLXD, đặc biệt ở khâu thu thập dữ liệu, quản lý năng lượng và xác định nguồn phát thải.
Vật liệu xây dựng bước vào cuộc đua giảm phát thải
Ảnh minh họa tạo bởi AI.

Kiểm kê KNK không còn là câu chuyện riêng của môi trường

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 ban hành Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính (KNK) phải thực hiện kiểm kê KNK cập nhật. Quyết định có hiệu lực từ ngày 25/9/2026.

Theo danh mục mới, có 2.441 cơ sở thuộc 6 lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê KNK. Riêng danh mục thuộc ngành Xây dựng gồm 411 cơ sở thuộc lĩnh vực xây dựng và 53 cơ sở thuộc lĩnh vực giao thông vận tải.

Phạm vi kiểm kê của lĩnh vực xây dựng bao gồm tiêu thụ năng lượng trong ngành Xây dựng và các quá trình công nghiệp trong sản xuất VLXD.

Với ngành VLXD, quy định này có ý nghĩa đáng chú ý bởi hoạt động sản xuất của nhiều nhóm vật liệu, đặc biệt là xi măng, có mức tiêu thụ năng lượng lớn và phát sinh phát thải trực tiếp trong quá trình sản xuất.

Điểm thay đổi quan trọng không nằm ở việc doanh nghiệp phải tính thêm một chỉ tiêu, mà là dữ liệu về năng lượng, nhiên liệu và hoạt động sản xuất phải được tổ chức theo cách có thể sử dụng để tính toán, báo cáo và kiểm chứng lượng phát thải.

Thông tư số 13/2024/TT-BXD ngày 20/12/2024 của Bộ Xây dựng, có hiệu lực từ ngày 05/02/2025 đã quy định quy trình kỹ thuật kiểm kê KNK và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải KNK ngành Xây dựng. Như vậy, đối với cơ sở thuộc diện kiểm kê, yêu cầu về dữ liệu phát thải đang dần trở thành một phần của hệ thống quản lý doanh nghiệp, thay vì chỉ là nhiệm vụ của bộ phận môi trường.

Tác động trực tiếp nhất đối với các cơ sở sản xuất VLXD là yêu cầu xây dựng được bức tranh phát thải ở cấp cơ sở.

Để làm được điều này, doanh nghiệp phải kiểm soát tốt hơn các dữ liệu liên quan đến nhiên liệu, điện năng, nguyên liệu, sản lượng và những nguồn phát thải phát sinh trong quá trình sản xuất. Chất lượng của dữ liệu đầu vào quyết định đáng kể đến độ tin cậy của kết quả kiểm kê.

Đối với doanh nghiệp VLXD, dữ liệu từ kiểm kê không chỉ phục vụ yêu cầu báo cáo mà còn là đầu vào quan trọng cho hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV - Measurement, Reporting and Verification). Khi dữ liệu phát thải được chuẩn hóa và kiểm chứng, doanh nghiệp có cơ sở rõ hơn để theo dõi mức phát thải, đánh giá hiệu quả các giải pháp giảm carbon và chuẩn bị cho những yêu cầu mới của cơ chế hạn ngạch và thị trường carbon. Điều này đồng nghĩa với việc dữ liệu sản xuất ngày càng phải đáp ứng đồng thời hai mục tiêu: phục vụ quản trị sản xuất và chứng minh lượng phát thải.

Đây là thay đổi không nhỏ đối với những doanh nghiệp chưa có hệ thống quản lý dữ liệu năng lượng và phát thải đồng bộ. Chi phí nhân sự, phần mềm, tư vấn, đo đạc và thẩm định có thể trở thành một phần mới trong chi phí tuân thủ.

Ngành xi măng chịu tác động rõ nét

Trong các nhóm VLXD, xi măng là lĩnh vực đáng chú ý nhất khi yêu cầu quản lý carbon ngày càng được cụ thể hóa.

Giai đoạn thí điểm 2025-2026, Việt Nam đã phân bổ hạn ngạch phát thải cho 110 cơ sở thuộc ba lĩnh vực gồm nhiệt điện, xi măng và sắt thép; trong đó có 51 cơ sở xi măng và 25 cơ sở sản xuất sắt thép.

Thực tế này cho thấy việc kiểm kê đang ngày càng gắn với một hệ thống quản lý phát thải rộng hơn. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: nằm trong danh mục phải kiểm kê không đồng nghĩa với việc tất cả các cơ sở trong danh mục mới đều ngay lập tức phải thực hiện nghĩa vụ hạn ngạch phát thải. Cơ chế phân bổ hạn ngạch được triển khai theo từng giai đoạn và danh mục cơ sở riêng.

Đối với các doanh nghiệp xi măng đã hoặc sẽ tham gia cơ chế hạn ngạch, vấn đề không chỉ là tổng lượng CO₂ phát thải mà còn là khả năng kiểm soát cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm.

Theo Bộ Công Thương, trong giai đoạn thí điểm 2025-2026, việc phân bổ hạn ngạch đang được thực hiện theo phương pháp dựa trên lịch sử phát thải; phương pháp dựa trên cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm là hướng tiếp cận đang được nhiều quốc gia áp dụng nhưng Việt Nam chưa thể triển khai ngay trên diện rộng do sự khác biệt về công nghệ giữa các doanh nghiệp.

Điều này cho thấy hiệu quả công nghệ sẽ ngày càng có ý nghĩa trong bài toán carbon của ngành xi măng.

Công nghệ tiêu hao năng lượng sẽ chịu sức ép

Khi lượng phát thải được đo lường và chuẩn hóa, những cơ sở có mức tiêu hao năng lượng cao sẽ có thêm áp lực phải cải thiện hiệu suất.

Đối với sản xuất xi măng, các giải pháp có thể tập trung vào tối ưu hóa dây chuyền, nâng hiệu suất thiết bị, giảm tiêu hao nhiệt và điện, tăng sử dụng nhiên liệu thay thế, tận dụng chất thải làm nguyên liệu hoặc nhiên liệu và giảm tỷ lệ clinker trong sản phẩm khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

Với các nhóm vật liệu khác, bài toán cũng tương tự: giảm tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm sẽ đồng thời tạo ra dư địa giảm phát thải.

Vì vậy, kiểm kê KNK có thể tạo ra một tác động gián tiếp nhưng đáng kể đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Những dự án trước đây được đánh giá chủ yếu trên tiêu chí tăng công suất, giảm chi phí hoặc nâng chất lượng sản phẩm sẽ phải tính thêm yếu tố hiệu quả năng lượng và phát thải.

Trong ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ phải dành thêm nguồn lực cho việc thu thập, chuẩn hóa và lưu trữ dữ liệu; xây dựng quy trình tính toán; lập báo cáo và thực hiện các yêu cầu thẩm định trong trường hợp thuộc diện áp dụng.

Đây là chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp khó có thể bỏ qua khi yêu cầu kiểm kê được mở rộng.

Tuy nhiên, nếu được tổ chức tốt, hệ thống dữ liệu phát thải cũng có thể trở thành công cụ hỗ trợ quản trị chi phí. Việc xác định chính xác công đoạn nào tiêu thụ nhiều năng lượng, nguồn nhiên liệu nào tạo ra phát thải lớn hay thiết bị nào có hiệu suất thấp giúp doanh nghiệp ưu tiên đầu tư đúng điểm.

Nói cách khác, kiểm kê không trực tiếp làm giảm phát thải; giá trị của kiểm kê nằm ở chỗ giúp doanh nghiệp biết phát thải phát sinh ở đâu, ở mức nào và cần can thiệp vào khâu nào.

Sức ép lan sang chuỗi giá trị VLXD

Tác động của yêu cầu quản lý carbon cũng không dừng ở những cơ sở trực tiếp thuộc diện kiểm kê.

Khi dữ liệu phát thải ngày càng được sử dụng trong quản lý carbon và thị trường carbon, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu có khả năng phải cung cấp nhiều hơn các thông tin liên quan đến dấu chân carbon của sản phẩm cho khách hàng, đối tác hoặc các thị trường xuất khẩu.

Điều này có thể tạo ra sự phân hóa mới trên thị trường VLXD. Doanh nghiệp có công nghệ hiệu suất cao, dữ liệu phát thải đầy đủ và khả năng chứng minh mức phát thải của sản phẩm sẽ thuận lợi hơn trong việc đáp ứng các yêu cầu mới của khách hàng và thị trường.

Ngược lại, những cơ sở có công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn nhưng thiếu dữ liệu phát thải sẽ phải đồng thời giải quyết hai bài toán: nâng cấp công nghệ và hoàn thiện năng lực quản trị carbon.

Đối với doanh nghiệp VLXD thuộc diện kiểm kê, việc cần làm trước mắt không nhất thiết là đầu tư ngay những công nghệ giảm carbon có chi phí lớn, mà là hoàn thiện hệ thống dữ liệu làm cơ sở cho các quyết định tiếp theo.

Doanh nghiệp cần rà soát các nguồn tiêu thụ năng lượng và phát thải trong toàn bộ dây chuyền, chuẩn hóa phương pháp thu thập số liệu, xác định các công đoạn có cường độ phát thải cao và xây dựng lộ trình cải thiện hiệu suất.

Đặc biệt, các doanh nghiệp xi măng, sắt thép và những cơ sở sử dụng nhiều năng lượng cần nhìn nhận dữ liệu phát thải như một phần của hệ thống quản trị sản xuất. Bởi khi cơ chế carbon tiếp tục được hoàn thiện, chi phí phát thải sẽ ngày càng có khả năng tác động đến bài toán đầu tư và sản xuất.

Kiểm kê KNK vì vậy không chỉ là yêu cầu về báo cáo, mà đang trở thành một công cụ hỗ trợ doanh nghiệp VLXD nhìn lại hiệu quả sản xuất trên cả ba phương diện: chi phí, năng lượng và phát thải.

Việc chuẩn hóa dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng những khâu cần cải thiện, từ đó chủ động đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu và nhiên liệu thay thế, phát triển vật liệu phát thải thấp và tăng cường tái sử dụng chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Đây sẽ là nền tảng để ngành VLXD nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm cường độ carbon và tăng sức cạnh tranh trong quá trình chuyển dịch sang mô hình sản xuất xanh, bền vững.

tapchixaydung.vn
Tin tức liên quan :
  • 464 cơ sở xây dựng, giao thông phải kiểm kê khí nhà kính 12:23 - 13/08/2026
  • Phát triển kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng 12:01 - 13/08/2026
  • ESG Company Tour 2026: Nhận thức của doanh nghiệp về chuyển đổi xanh đang có sự thay đổi 09:37 - 13/08/2026
  • Doanh nghiệp vật liệu xây dựng: Chuyển đổi xanh và quản trị năng lượng hiệu quả 09:23 - 13/08/2026
  • Hà Nội đẩy nhanh tái chế phế thải, tạo nguồn vật liệu 05:54 - 10/08/2026
  • Giảm dấu chân carbon của công trình: Bắt đầu từ lựa chọn vật liệu 10:49 - 08/08/2026
  • Thái Nguyên gỡ điểm nghẽn vật liệu, bảo đảm tiến độ các dự án 10:11 - 08/08/2026
  • Ngành cọc bê tông ly tâm: "Bẫy" thừa công suất và cảnh báo nhà đầu tư thận trọng mở rộng 06:44 - 05/08/2026
  • Sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây dựng duy trì đà tăng trong 7 tháng 06:13 - 05/08/2026
  • Khi miền Tây khát cát: Đã đến lúc chọn cầu cạn? 05:57 - 05/08/2026

Thông báo

  • THÔNG BÁO CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ VIỆC BỔ NHIỆM TRƯỞNG BAN ĐỐI NGOẠI
  • THÔNG BÁO TIN BUỒN
  • THÔNG BÁO (NHẮC LẠI) CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC HỘI THẢO: KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, ĐỎI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ VỚI NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM
  • THÔNG BÁO CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ KẾ HOẠCH (DỰ KIẾN) TỔ CHỨC HỘI THẢO TỪ NAY ĐẾN HẾT NĂM 2026.
  • Thông báo của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam về việc khen thưởng Hội viên năm 2025.

Video Clip

CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ CAO CƯỜNG - DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀNG ĐẦU VIỆT NAM SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG MỚI

ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hội thảo khởi động - BMF2019 (20/08/2019)

LIÊN KẾT WEBSITE

  • HV

Thống kê

Lượt truy cập: 7487737

© Cơ quan chủ quản: Hội vật liệu xây dựng Việt Nam VABM

- Tổng biên tập: TS Thái Duy Sâm, Tổng thư ký VABM

- Ngõ 235 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân dist., Hà nội

- Tel: 84-4-3858 4949 Fax 84-4-35576902

- Email: hoivlxdvn@fpt.vn

Lên đầu trang