Ảnh minh họa tạo bởi AI.
Chuyển từ khai thác tài nguyên sang làm chủ công nghệ
Theo Kết luận số 83-KL/TW ngày 08/8/2026 của Bộ Chính trị, ngành công nghiệp vật liệu Việt Nam đã từng bước đáp ứng nhu cầu vật tư, nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế và đóng góp vào tăng trưởng, phát triển hạ tầng. Một số loại vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế đã được nghiên cứu, sản xuất.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ những hạn chế của ngành khi sản xuất vật liệu vẫn còn nặng về khai thác tài nguyên, tiêu hao nhiều năng lượng, giá trị gia tăng thấp, phát thải cao và gây sức ép lên môi trường. Công nghệ chế biến sâu, công nghệ lõi và hoạt động tái chế chưa được quan tâm tương xứng; một số loại vật liệu chất lượng cao, công nghệ cao và vật liệu đặc chủng vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.
Định hướng được đặt ra là chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu và từng bước làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị. Việc sản xuất cũng phải gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường, chuyển đổi xanh, tái chế, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, năng lượng.
Đây là định hướng có ý nghĩa trực tiếp đối với các ngành VLXD sử dụng nhiều nguyên liệu, năng lượng và có mức phát thải lớn, trong đó có xi măng, kính xây dựng, gạch, gốm và vật liệu hoàn thiện.
Cơ cấu lại ngành VLXD, nâng cấp toàn diện các cơ sở sản xuất
Một trong những nội dung đáng chú ý của Kết luận là yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại ngành luyện kim, hóa chất, polymer, cao su kỹ thuật và VLXD theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, thân thiện với môi trường; đồng thời tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Đối với riêng VLXD, Kết luận yêu cầu chủ động điều tiết quy mô, cơ cấu các ngành xi măng, kính xây dựng, gạch, gốm và vật liệu hoàn thiện phù hợp với nhu cầu thị trường, qua đó khắc phục tình trạng dư thừa công suất và cạnh tranh không lành mạnh.
Định hướng này cho thấy yêu cầu phát triển ngành VLXD trong giai đoạn tới không còn đặt nặng mục tiêu mở rộng công suất đơn thuần. Thay vào đó, trọng tâm sẽ chuyển sang nâng cao hiệu quả đầu tư, cân đối cung - cầu, đổi mới công nghệ và nâng chất lượng sản phẩm.
Đồng thời, việc hình thành các tổ hợp, trung tâm công nghiệp vật liệu quy mô lớn gắn với vùng nguyên liệu, cảng biển, logistics và các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn được xem là một hướng đi nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng vật liệu.
Một điểm đáng chú ý đối với ngành VLXD là Bộ Chính trị yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ sử dụng vật liệu không nung, vật liệu tái chế, vật liệu thân thiện môi trường và vật liệu thay thế cát tự nhiên; phát triển kinh tế tuần hoàn trong sản xuất VLXD.
Cùng với đó, Kết luận đặt ra yêu cầu chuyển đổi, nâng cấp toàn diện các cơ sở sản xuất vật liệu theo hướng xanh, bền vững, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính. Các cơ chế khuyến khích nghiên cứu, sản xuất và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu thay thế, vật liệu không nung và vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng, tro xỉ, phế thải công nghiệp cũng được nhấn mạnh.
Như vậy, vật liệu xanh và vật liệu tái chế được đặt trong định hướng phát triển dài hạn của ngành, không chỉ dừng ở việc khuyến khích một số sản phẩm riêng lẻ. Đây cũng là cơ sở quan trọng để ngành VLXD tiếp tục giảm phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên, tăng sử dụng nguồn nguyên liệu thứ cấp và từng bước hình thành các chuỗi sản xuất tuần hoàn.
Đặt KHCN vào trung tâm phát triển
Kết luận 83-KL/TW xác định KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu thúc đẩy công nghiệp vật liệu.
Theo đó, Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm, kiểm định và đo lường đạt chuẩn khu vực, quốc tế. Doanh nghiệp được xác định là trung tâm đổi mới sáng tạo và là chủ thể tiếp nhận, thương mại hóa công nghệ, trong khi các viện nghiên cứu, trường đại học giữ vai trò nền tảng về nghiên cứu và đào tạo.
Đáng chú ý, Kết luận đặt mục tiêu đến năm 2028 phấn đấu hình thành 3 - 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia; đến năm 2030 làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.
Đối với ngành VLXD, việc tăng cường năng lực nghiên cứu và thử nghiệm sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào nguyên liệu và công nghệ sẵn có sang phát triển sản phẩm mới, vật liệu có tính năng cao và giá trị gia tăng lớn hơn.
Hoàn thiện chiến lược quốc gia về công nghiệp vật liệu
Bộ Chính trị yêu cầu trong năm 2026 xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chính phủ được giao chỉ đạo xây dựng và ban hành chiến lược này trong quý IV/2026. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công nghiệp vật liệu và quản lý, phát triển VLXD.
Kết luận cũng yêu cầu hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với chuẩn mực quốc tế; xây dựng các yêu cầu về xuất xứ, chất lượng, an toàn, môi trường đối với nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu và hướng tới thúc đẩy tiêu dùng vật liệu xanh sản xuất trong nước.
Đây sẽ là những cơ sở quan trọng để hình thành một khung chính sách đồng bộ hơn cho ngành VLXD, từ quản lý tài nguyên, quy hoạch, sản xuất đến tiêu chuẩn chất lượng, môi trường và thị trường.
Kết luận 83-KL/TW cho thấy một định hướng xuyên suốt đối với công nghiệp vật liệu nói chung và VLXD nói riêng: Không tiếp tục phát triển theo chiều rộng, mà phải nâng cấp toàn diện chuỗi giá trị.
Với ngành VLXD, điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ phải quan tâm đồng thời đến hiệu quả sử dụng nguyên liệu, năng lượng, công nghệ, chất lượng sản phẩm, phát thải và khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Đặc biệt, yêu cầu phát triển xanh, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu không nung, vật liệu thay thế cát tự nhiên và kinh tế tuần hoàn cho thấy quá trình chuyển đổi của ngành VLXD sẽ ngày càng gắn chặt với mục tiêu tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải. Trong khi đó, việc cơ cấu lại các ngành xi măng, kính, gạch, gốm và vật liệu hoàn thiện đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động thích ứng với thị trường thay vì chỉ tập trung mở rộng năng lực sản xuất.
Về dài hạn, định hướng mới sẽ tạo sức ép nhưng đồng thời mở ra dư địa cho doanh nghiệp VLXD đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm xanh, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế. Đây cũng là bước chuyển quan trọng để công nghiệp VLXD từ lợi thế về tài nguyên và năng lực sản xuất từng bước chuyển sang cạnh tranh bằng công nghệ, chất lượng, hiệu quả và mức độ xanh hóa sản phẩm.
Từ Kết luận 83-KL/TW, ngành VLXD được định hướng phát triển theo 5 trọng tâm:
1. Cơ cấu lại sản xuất
Chủ động điều tiết quy mô, cơ cấu các ngành xi măng, kính xây dựng, gạch, gốm và vật liệu hoàn thiện, phù hợp nhu cầu thị trường, hạn chế dư thừa công suất và cạnh tranh thiếu lành mạnh.
2. Chuyển mạnh sang sản xuất xanh
Nâng cấp cơ sở sản xuất theo hướng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính; thúc đẩy vật liệu không nung, vật liệu thân thiện môi trường và vật liệu thay thế cát tự nhiên.
3. Phát triển kinh tế tuần hoàn
Tăng cường sử dụng vật liệu tái chế, chất thải xây dựng, tro xỉ và phế thải công nghiệp làm nguyên liệu đầu vào, qua đó giảm khai thác tài nguyên tự nhiên và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
4. Làm chủ công nghệ, nâng giá trị gia tăng
Chuyển từ phát triển dựa vào tài nguyên và mở rộng công suất sang đổi mới công nghệ, chế biến sâu, phát triển vật liệu có tính năng cao và từng bước làm chủ các công nghệ vật liệu quan trọng.
5. Hoàn thiện khung chính sách
Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đồng thời hoàn thiện pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn để tạo nền tảng cho ngành VLXD phát triển hiện đại, xanh và cạnh tranh hơn.