• Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu chung
    • |
    • Điều lệ Hội VLXDVN
    • |
    • Danh sách Ban chấp hành-Đoàn chủ tịch
    • |
    • Danh sách Hội viên
    • |
    • Hồ sơ xin gia nhập Hội VLXDVN
  • Tin tức
    • Tin tức - Sự kiện
    • |
    • Hội thảo - Hội chợ
    • |
    • Thị trường VLXD
  • Khoa học - Công nghệ
    • Sản phẩm
    • |
    • Công nghệ
  • Văn bản pháp luật
    • Luật - Nghị định
    • |
    • Quyết định - Thông tư
    • |
    • Tiêu chuẩn
  • Thông tin doanh nghiệp
    • Hoạt động của hội viên
    • |
    • Dành cho hội viên
  • Hỏi đáp
    • Gửi câu hỏi
    • |
    • Câu hỏi đã trả lời
  • Liên hệ

Nguồn cung vật liệu xây dựng chuyển sang quản trị bằng dữ liệu

Tin tức - Sự kiện 10:47 - 25/08/2026
Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia, Bản đồ số và hệ thống dự báo cung - cầu VLXD sẽ giúp chuyển từ ứng phó thiếu hụt sang chủ động quản trị nguồn cung, dự báo nhu cầu và chuẩn bị quỹ mỏ cho các giai đoạn phát triển dài hạn.
Nguồn cung vật liệu xây dựng chuyển sang quản trị bằng dữ liệu
Ảnh minh họa tạo bởi AI.

Từ bài toán thiếu vật liệu đến bài toán quản trị nguồn cung

Văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc không chỉ đặt ra yêu cầu rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng (VLXD) thông thường cho các công trình trọng điểm; mà một nội dung có ý nghĩa lâu dài hơn đối với ngành VLXD là yêu cầu hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung VLXD, tích hợp thông tin về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối; đồng thời cập nhật thường xuyên để phục vụ quản lý, điều hành.

Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu định kỳ hằng năm công bố Bản đồ số quốc gia về nguồn cung VLXD, xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu theo vùng kinh tế và một hệ thống dự báo cung - cầu theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển.

Nhìn từ góc độ ngành VLXD, đây là sự thay đổi đáng chú ý trong phương thức quản lý. Nguồn cung vật liệu không còn được nhìn nhận đơn thuần ở quy mô từng mỏ hay từng địa phương, mà được đặt trong mối quan hệ giữa tài nguyên, năng lực khai thác, nhu cầu thị trường, không gian địa lý, tiến độ phát triển hạ tầng.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu VLXD đang có sự thay đổi nhanh theo tiến độ đầu tư công, phát triển hạ tầng giao thông, đô thị và công nghiệp.

Bản đồ số sẽ thay đổi cách nhìn về nguồn vật liệu

Theo báo cáo của Bộ NN&MT, nguồn tài nguyên khoáng sản làm VLXD thông thường của Việt Nam về tổng thể cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các công trình, dự án trọng điểm quốc gia trong trung và dài hạn. Nhiều địa phương còn nguồn tài nguyên phong phú, trữ lượng lớn và dư địa nâng công suất khai thác.

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên phân bố không đồng đều, trong khi nhu cầu lại tập trung mạnh tại những khu vực đồng thời triển khai nhiều dự án quy mô lớn. Tiến độ điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản, cập nhật quy hoạch, chuẩn bị quỹ mỏ, cấp phép và nâng công suất một số mỏ chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt cục bộ một số loại vật liệu tại một số địa phương.

Điểm đáng chú ý là Chính phủ xác định vấn đề hiện nay không phải thiếu tài nguyên khoáng sản, mà là cần nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên và tổ chức nguồn cung trên phạm vi quốc gia. Việc bảo đảm nguồn vật liệu được đặt trong một chuỗi liên tục từ điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng, quy hoạch, chuẩn bị quỹ mỏ, cấp phép, khai thác đến xây dựng cơ sở dữ liệu, điều phối và sử dụng hiệu quả.

Với ngành VLXD, cách tiếp cận này cho thấy một yêu cầu mới: không chỉ biết hiện có bao nhiêu vật liệu, mà phải biết trong tương lai cần bao nhiêu, cần ở đâu, vào thời điểm nào và nguồn nào có khả năng đáp ứng.

Việc hình thành Bản đồ số quốc gia về nguồn cung VLXD có thể tạo ra một công cụ quan trọng để kết nối thông tin tài nguyên với nhu cầu xây dựng.

Nếu được cập nhật đầy đủ, hệ thống có thể phản ánh tương đối toàn diện vị trí các mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, khả năng tăng sản lượng và nhu cầu vật liệu tại từng khu vực. Khi kết hợp với thông tin về quy hoạch và tiến độ phát triển hạ tầng, dữ liệu này sẽ giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm những khu vực có nguy cơ thiếu nguồn cung.

Đối với doanh nghiệp khai thác, sản xuất và cung ứng VLXD, dữ liệu cũng có thể trở thành cơ sở để xác định thị trường, xây dựng kế hoạch đầu tư và điều chỉnh năng lực sản xuất.

Chẳng hạn, thay vì đầu tư mở rộng công suất chỉ dựa trên nhu cầu hiện tại, doanh nghiệp có thể căn cứ vào xu hướng nhu cầu vật liệu của từng vùng, tiến độ các dự án hạ tầng và khả năng nguồn cung trong những năm tới để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp hơn.

Đây cũng là lý do hệ thống dự báo cung - cầu mà Chính phủ yêu cầu xây dựng có ý nghĩa không kém cơ sở dữ liệu về mỏ. Cơ sở dữ liệu cho biết “đang có gì”, còn hệ thống dự báo phải trả lời câu hỏi “sắp cần gì”.

Bước chuyển từ bị động sang chủ động

Một nội dung đặc biệt đáng chú ý đối với ngành VLXD là yêu cầu các địa phương chủ động chuẩn bị quỹ mỏ phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030 - 2045, tránh bị động khi triển khai những công trình quy mô lớn.

Đây là một cách tiếp cận có tính dài hạn, bởi việc chuẩn bị nguồn VLXD không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Từ điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng, đưa khu vực có khoáng sản vào quy hoạch, hoàn thiện thủ tục, cấp phép đến tổ chức khai thác đều cần thời gian và phải tuân thủ các yêu cầu về môi trường, đất đai và pháp luật khoáng sản.

Vì vậy, nếu chỉ bắt đầu tìm kiếm nguồn vật liệu khi dự án đã được triển khai, nguy cơ phát sinh độ trễ là rất lớn.

Việc chuẩn bị quỹ mỏ từ sớm sẽ tạo dư địa để các địa phương chủ động xây dựng phương án cung ứng vật liệu tương ứng với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng. Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan, bổ sung những khu vực có tiềm năng khoáng sản làm VLXD thông thường phù hợp với quy hoạch phát triển hạ tầng.

Ở góc độ thị trường, điều này có thể góp phần giảm tình trạng “đầu tư đi trước nhưng vật liệu đi sau” - một trong những nguyên nhân làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ các dự án xây dựng.

Một điểm khác đáng chú ý là yêu cầu rà soát các mỏ đang khai thác để xem xét điều chỉnh công suất đối với những mỏ đủ điều kiện, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm. Đây là giải pháp có khả năng tác động trực tiếp hơn tới thị trường trong ngắn hạn.

Trong điều kiện nhu cầu vật liệu tăng nhanh tại một số khu vực, việc khai thác hiệu quả các mỏ đang hoạt động, còn dư địa về công suất, có thể giúp bổ sung nguồn cung mà không nhất thiết phải chờ phát triển hoàn toàn một nguồn mỏ mới.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh công suất cần gắn với đánh giá đầy đủ về trữ lượng, điều kiện khai thác, môi trường, hạ tầng vận chuyển và khả năng tiêu thụ. Mục tiêu không phải khai thác tối đa tài nguyên trong thời gian ngắn, mà là tối ưu hóa công suất khai thác trong giới hạn cho phép và phù hợp với nhu cầu thực tế.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản: chuyển từ tư duy khai thác theo khả năng hiện hữu sang quản trị sản lượng gắn với dự báo thị trường và quy hoạch phát triển hạ tầng.

Tạo nền tảng minh bạch hơn cho thị trường vật liệu

Một hệ thống dữ liệu thống nhất về nguồn cung cũng có thể tạo tác động tích cực đến tính minh bạch của thị trường VLXD.

Hiện nay, thông tin về trữ lượng, công suất, khả năng khai thác và nhu cầu vật liệu được phân tán ở nhiều cấp, nhiều địa phương và nhiều cơ quan quản lý. Khi thiếu một hệ thống dữ liệu liên thông, việc đánh giá tổng thể cung - cầu và xác định khả năng hỗ trợ giữa các khu vực gặp nhiều khó khăn.

Cơ sở dữ liệu quốc gia, nếu được cập nhật thường xuyên và bảo đảm tính chính xác, sẽ giúp cơ quan quản lý có thêm cơ sở để đánh giá thị trường, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp và chủ đầu tư trong việc xây dựng kế hoạch nguồn vật liệu.

Đặc biệt, khi Bản đồ số quốc gia được công bố định kỳ, thông tin về nguồn cung sẽ được đặt trong một không gian thống nhất, giúp nhận diện rõ hơn sự phân bố tài nguyên và năng lực cung ứng giữa các vùng.

Để cơ sở dữ liệu thực sự phát huy hiệu quả, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở việc xây dựng một hệ thống công nghệ, mà ở chất lượng, tính cập nhật và khả năng kết nối của dữ liệu.

Dữ liệu về mỏ cần được cập nhật cùng với tình trạng pháp lý, trữ lượng, công suất được cấp phép, sản lượng khai thác thực tế và khả năng nâng công suất. Ở phía nhu cầu, dữ liệu cần được kết nối với quy hoạch và tiến độ các dự án hạ tầng, đô thị, công nghiệp để hình thành bức tranh cung - cầu có tính dự báo.

Khi đó, cơ sở dữ liệu không chỉ là nơi lưu trữ thông tin mà trở thành công cụ hỗ trợ quyết định: khi nào cần chuẩn bị mỏ mới, khu vực nào cần tăng công suất, địa phương nào có thể bổ sung nguồn cho nơi khác và loại vật liệu nào có nguy cơ thiếu trong tương lai.

Theo yêu cầu của Chính phủ, các địa phương phải hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước quý II/2027; đồng thời bố trí nguồn lực để điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản.

Với ngành VLXD, điểm đáng chú ý nhất trong Văn bản 8368/VPCP-CN không nằm ở một mốc thời gian điều phối cụ thể, mà ở sự thay đổi về phương thức quản lý nguồn cung.

Từ việc xử lý thiếu vật liệu tại từng địa phương, từng dự án, cách tiếp cận mới hướng tới quản trị cả chuỗi: biết rõ tài nguyên ở đâu, khả năng khai thác thế nào, nhu cầu tương lai ra sao, nguồn cung có thể được bổ sung từ đâu và cần chuẩn bị trước bao lâu.

Nếu Cơ sở dữ liệu quốc gia, Bản đồ số, hệ thống dự báo cung - cầu và quỹ mỏ được triển khai đồng bộ, thị trường VLXD sẽ có thêm nền tảng để chuyển từ “ứng phó khi thiếu” sang “chuẩn bị trước khi thiếu”.

Đây không chỉ là giải pháp bảo đảm vật liệu cho các công trình trọng điểm, mà còn có thể trở thành nền tảng quản trị nguồn tài nguyên và phát triển thị trường VLXD ổn định, minh bạch và chủ động hơn trong dài hạn.


tapchixaydung.vn
Tin tức liên quan :
  • Mỹ áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu với mặt đá thạch anh 10:49 - 25/08/2026
  • Tái chế phế thải xây dựng cần “đòn bẩy” chính sách 09:23 - 21/08/2026
  • Ngành VLXD lấy lại đà tăng trưởng trước sức ép thị trường 10:41 - 19/08/2026
  • Điều phối nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các công trình trọng điểm 10:37 - 19/08/2026
  • Bắc Ninh: Tăng cường ứng dụng vật liệu xanh trong xây dựng 09:59 - 18/08/2026
  • Vật liệu xây dựng chống chịu thiên tai: Kinh nghiệm từ Nhật Bản 08:44 - 16/08/2026
  • 464 cơ sở xây dựng, giao thông phải kiểm kê khí nhà kính 12:23 - 13/08/2026
  • Phát triển kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng 12:01 - 13/08/2026
  • Vật liệu xây dựng bước vào cuộc đua giảm phát thải 11:59 - 13/08/2026
  • ESG Company Tour 2026: Nhận thức của doanh nghiệp về chuyển đổi xanh đang có sự thay đổi 09:37 - 13/08/2026

Thông báo

  • THÔNG BÁO CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ VIỆC BỔ NHIỆM TRƯỞNG BAN ĐỐI NGOẠI
  • THÔNG BÁO TIN BUỒN
  • THÔNG BÁO (NHẮC LẠI) CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC HỘI THẢO: KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, ĐỎI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ VỚI NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM
  • THÔNG BÁO CỦA HỘI VẬT LIỆU XÂY DỰNG VIỆT NAM VỀ KẾ HOẠCH (DỰ KIẾN) TỔ CHỨC HỘI THẢO TỪ NAY ĐẾN HẾT NĂM 2026.
  • Thông báo của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam về việc khen thưởng Hội viên năm 2025.

Video Clip

CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ CAO CƯỜNG - DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀNG ĐẦU VIỆT NAM SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG MỚI

ẢNH HOẠT ĐỘNG

  • Hội thảo khởi động - BMF2019 (20/08/2019)

LIÊN KẾT WEBSITE

  • HV

Thống kê

Lượt truy cập: 7527403

© Cơ quan chủ quản: Hội vật liệu xây dựng Việt Nam VABM

- Tổng biên tập: TS Thái Duy Sâm, Tổng thư ký VABM

- Ngõ 235 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân dist., Hà nội

- Tel: 84-4-3858 4949 Fax 84-4-35576902

- Email: hoivlxdvn@fpt.vn

Lên đầu trang