Ảnh minh họa. Nguồn: ITN
VLXD từ biến động giá đến áp lực hệ thống đối với đầu tư công
Thị trường VLXD đầu năm 2026 đang bước vào chu kỳ biến động mới với cường độ rõ rệt, không còn mang tính ngắn hạn mà có xu hướng lan rộng và kéo dài.
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng và các hiệp hội ngành, chỉ riêng tháng 3/2026, nhiều nhóm vật liệu ghi nhận mức tăng đáng kể: Xi măng tăng trên 7%, thép khoảng 2%, gạch lát gần 5%; trong khi các vật liệu rời như cát, đá, gạch xây tăng mạnh từ 13,5% đến 23,3%. Đáng chú ý, nhựa đường, vật liệu thiết yếu cho hạ tầng giao thông tăng gần 32%.
Diễn biến này chủ yếu đến từ tác động cộng hưởng của giá nhiên liệu, chi phí vận chuyển và sự siết chặt nguồn cung tài nguyên. Bộ Xây dựng cho biết, biến động giá vật liệu và nhiên liệu có thể khiến chi phí xây dựng tăng từ 1,91% đến 8,09%, trong đó công trình giao thông chịu ảnh hưởng lớn nhất.
Áp lực từ thị trường VLXD đang nhanh chóng truyền dẫn vào đầu tư công. Hiện cả nước có khoảng 44 dự án trọng điểm với tổng mức đầu tư khoảng 569.000 tỷ đồng, trong đó giá trị chưa thi công còn khoảng 267.000 tỷ đồng. Với quy mô này, chỉ cần chi phí vật liệu tăng vài phần trăm cũng có thể làm phát sinh thêm hàng chục nghìn tỷ đồng chi phí.
Dữ liệu vĩ mô cũng cho thấy tác động lan tỏa ngày càng rõ. Theo cơ quan thống kê, quý I/2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,51%, riêng nhóm nhà ở và VLXD tăng tới 5,69%, mức cao nhất trong các nhóm hàng hóa. Điều này phản ánh VLXD không còn là yếu tố đầu vào đơn thuần, mà đã trở thành biến số có ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và đời sống dân cư.
Trong khi đó, tiến độ giải ngân đầu tư công tiếp tục đối mặt với áp lực. Báo cáo tại Quốc hội cho thấy quý I/2026 mới giải ngân khoảng 10,4% kế hoạch, đồng thời còn 48,3 nghìn tỷ đồng chưa được phân bổ chi tiết tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Điều này cho thấy khả năng hấp thụ vốn vẫn là điểm nghẽn, trong đó yếu tố nguồn vật liệu ngày càng được nhận diện rõ hơn.
Gắn kết quy hoạch tài nguyên với đầu tư công, yêu cầu từ nghị trường
Tại phiên thảo luận Quốc hội ngày 21/4, vấn đề VLXD lần đầu được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với hiệu quả đầu tư công ở tầm chính sách.
Đại biểu Nguyễn Duy Minh - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng đánh giá, bên cạnh những kết quả tích cực của đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025, vẫn tồn tại các hạn chế như giải ngân chậm, dự án kéo dài, phải điều chỉnh nhiều lần. Theo đại biểu, nguyên nhân cốt lõi không chỉ nằm ở nguồn vốn, mà còn ở cơ chế vận hành và tổ chức thực hiện.
Đáng chú ý, đại biểu chỉ ra một nghịch lý trong khai thác và sử dụng tài nguyên: Tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, nhưng khi triển khai dự án, Nhà nước vẫn phải mua vật liệu theo cơ chế thị trường, làm phát sinh vòng lặp chi phí, đẩy tổng mức đầu tư tăng lên.
Liên quan trực tiếp đến VLXD, đại biểu cho rằng công tác quy hoạch tài nguyên đã được xây dựng, song trong thực tiễn triển khai vẫn cần tăng cường tính chủ động và gắn kết chặt hơn với kế hoạch đầu tư công. Một số dự án vẫn phải xử lý đồng thời nhiều thủ tục như điều chỉnh quy hoạch, cấp phép khai thác mỏ, hoàn thiện pháp lý… dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị.
Từ đó, đại biểu kiến nghị cần, hoàn thiện cơ chế điều phối giữa quy hoạch tài nguyên và đầu tư công; đơn giản hóa thủ tục cấp phép khai thác; nghiên cứu cơ chế điều tiết giá hoặc dự trữ VLXD…
Cùng góc nhìn về hiệu quả đầu tư, đại biểu Phan Duy Anh (Đà Nẵng) nhấn mạnh, để đạt mục tiêu giảm hệ số ICOR xuống 4,5 - 4,8 trong giai đoạn 2026 - 2030, cần giải quyết các tồn tại kéo dài như: Phân bổ vốn dàn trải; chất lượng chuẩn bị dự án chưa cao; GPMB chậm; khả năng cung ứng VLXD còn hạn chế...
Đại biểu Nguyễn Như So (Bắc Ninh) cũng cho rằng cần tái cấu trúc cơ chế phân bổ vốn để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đồng thời khắc phục tình trạng “lệch pha” giữa nhu cầu đầu tư dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn.
Trong khi đó, đại biểu Đoàn Thị Lê An (Cao Bằng) chỉ ra thực tế “có vốn nhưng không tiêu được”, phản ánh những điểm nghẽn mang tính hệ thống, từ thể chế đến năng lực thực thi.
Từ điều tiết thị trường đến hoàn thiện hệ sinh thái VLXD
Các ý kiến tại nghị trường và từ cơ quan quản lý cho thấy xu hướng chính sách đang chuyển từ phản ứng ngắn hạn sang tiếp cận mang tính hệ thống đối với VLXD.
Trước áp lực giá tăng, Bộ Xây dựng đã đề nghị các địa phương: Chủ động cân đối nguồn cung vật liệu; cập nhật, công bố giá sát thị trường; kiểm soát tình trạng đầu cơ, găm hàng; rà soát nhu cầu vật liệu cho từng dự án để bảo đảm thi công liên tục…
Ở góc độ chuyên gia, ông Tống Văn Nga - Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam cho rằng, vấn đề cốt lõi nằm ở thiếu một hệ thống quy hoạch đồng bộ và dữ liệu đầy đủ về cung - cầu vật liệu. Khi quy hoạch chưa theo kịp thực tiễn, thị trường dễ rơi vào trạng thái mất cân đối cục bộ, dẫn đến biến động giá bất thường.
Theo ông Tống Văn Nga, cần đặt trọng tâm vào ba nhóm giải pháp: Nâng cao minh bạch và tần suất cập nhật giá VLXD; hoàn thiện cơ chế điều chỉnh hợp đồng xây dựng; phát triển vật liệu thay thế, vật liệu tái chế…
Đồng thời, việc gắn quản lý VLXD với chính sách năng lượng và logistics cũng được xem là yếu tố quan trọng, trong bối cảnh chi phí vận chuyển ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành vật liệu.
Nhìn chung, diễn biến mới của thị trường cho thấy VLXD đang trở thành một biến số quan trọng trong điều hành đầu tư công và kinh tế vĩ mô. Các thảo luận tại Quốc hội ngày 21/4/2026 đã làm rõ hơn một thực tế, để bảo đảm tiến độ và hiệu quả đầu tư, quy hoạch tài nguyên cần đi trước một bước, đồng thời được tổ chức thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt và gắn kết chặt chẽ với kế hoạch đầu tư công.
Khi chuỗi quy hoạch, khai thác, cung ứng và sử dụng VLXD được vận hành như một chỉnh thể thống nhất, rủi ro đứt gãy sẽ được kiểm soát, qua đó tạo nền tảng ổn định cho phát triển hạ tầng trong giai đoạn tới.