Biến động giá VLXD khiến nhà thầu phải tự chịu rủi ro, dẫn tới tình trạng thi công cầm chừng hoặc tạm dừng khi chi phí vượt dự toán.
“Cú sốc giá” lan rộng gây áp lực "đội" thêm chi phí đầu tư
Diễn biến giá VLXD thời gian gần đây cho thấy, tác động lan tỏa mạnh từ biến động nhiên liệu. Theo báo cáo của TP Cần Thơ và Hải Phòng, chỉ trong thời gian ngắn, mặt bằng giá đã tăng đáng kể: Xi măng tăng hơn 7%, thép hơn 2%, gạch lát gần 5%; đặc biệt cát, đá, gạch xây tăng từ 13,5% đến 23,3%, trong khi nhựa đường tăng đột biến gần 32%.
Đáng chú ý, mức tăng này không chỉ dừng ở chi phí vật liệu mà kéo theo chi phí vận chuyển, thi công và logistics, làm gia tăng tổng mức đầu tư. Hải Phòng ước tính kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 với hơn 190 dự án, tổng vốn khoảng 166.000 tỷ đồng, có thể tăng thêm hơn 19.000 tỷ đồng (tương đương 11%) do biến động giá. Riêng lĩnh vực giao thông tăng khoảng 14.800 tỷ đồng.
Ở các địa phương miền núi như Cao Bằng, tác động còn lớn hơn do chi phí vận chuyển cao, địa hình chia cắt, thị trường nhỏ và khả năng hấp thụ chi phí hạn chế. Giá nhiên liệu tăng không chỉ làm đội chi phí đầu tư mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu dùng, đời sống dân cư và mục tiêu tăng trưởng GRDP.
Thực tế này cho thấy VLXD đã vượt khỏi vai trò đầu vào đơn thuần, trở thành yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Hợp đồng “lệch pha”, nguồn cung “tắc" từ gốc
Biến động giá đã bộc lộ rõ những hạn chế trong cơ chế quản lý hiện hành, đặc biệt là hợp đồng xây dựng. Với hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định, nhà thầu phải tự chịu rủi ro biến động giá, dẫn tới tình trạng thi công cầm chừng hoặc tạm dừng khi chi phí vượt dự toán.
Ngay cả hợp đồng điều chỉnh giá cũng gặp khó do phương thức bù giá theo chỉ số thường công bố theo tháng hoặc quý, không theo kịp biến động nhanh của thị trường xăng dầu... Khoảng trễ này khiến việc bù giá không phản ánh đúng chi phí thực tế, làm giảm hiệu quả cơ chế điều chỉnh.
Theo nhận định của ông Tống Văn Nga, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, nguyên nhân cốt lõi nằm ở công tác quy hoạch và quản lý tài nguyên chưa đồng bộ. Khi thiếu một hệ thống dữ liệu đầy đủ về cung - cầu và quy hoạch dài hạn, thị trường dễ rơi vào mất cân đối cục bộ, kéo theo biến động giá bất thường.
Song song với đó, nguồn cung vật liệu tiếp tục là nút thắt mang tính hệ thống. Tại Đà Nẵng, nguồn đá chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu năm 2026; đất san lấp thiếu hơn 3 triệu m³. Dù có 80 giấy phép khai thác còn hiệu lực, nhiều mỏ hết hạn chậm gia hạn, trong khi việc cấp phép mỏ mới kéo dài, khiến nguồn cung không theo kịp nhu cầu tăng nhanh.
Ở các địa bàn khó khăn như A Lưới (Huế), thiếu cát, chi phí vận chuyển tăng và việc nhiều dự án triển khai đồng loạt khiến áp lực vật liệu càng lớn. Thực tế cho thấy tình trạng “có vật liệu nhưng không đến được công trường” do chi phí logistics cao, kết nối vùng yếu và thiếu thông tin thị trường.
Biến động giá đã bộc lộ rõ những hạn chế trong cơ chế quản lý hiện hành, đặc biệt là hợp đồng xây dựng.
Nâng tầm điều hành từ phản ứng chính sách đến điều phối thị trường
Trước áp lực thực tiễn, các địa phương đã chủ động triển khai nhiều giải pháp. Cụ thể như, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu không để xảy ra đầu cơ, găm hàng, thổi giá, trong khi Gia Lai kiểm soát toàn diện từ khai thác đến lưu thông, còn tỉnh Cao Bằng áp dụng cơ chế cập nhật giá vật liệu tối thiểu 2 tuần/lần, thậm chí theo tuần khi biến động mạnh.
Đáng chú ý, nhiều địa phương như Hải Phòng, Cần Thơ kiến nghị xem biến động giá vật liệu, nhiên liệu do yếu tố quốc tế là trường hợp bất khả kháng, từ đó cho phép điều chỉnh hợp đồng. Các đề xuất bao gồm chuyển đổi hình thức hợp đồng sang điều chỉnh giá, áp dụng phương pháp bù trừ trực tiếp, giãn tiến độ và xem xét chính sách thuế đối với vật liệu thiết yếu.
Trên bình diện quản lý nhà nước, theo thông tin tại các cuộc họp báo và chỉ đạo điều hành gần đây của Bộ Xây dựng trong tháng 4/2026, Bộ yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường VLXD; không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, đồng thời đẩy nhanh công bố giá vật liệu và chỉ số giá xây dựng theo hướng kịp thời, sát diễn biến thị trường, đặc biệt trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động nhanh.
Bộ Xây dựng cũng nhấn mạnh, việc chủ động theo dõi, dự báo cung - cầu vật liệu, rà soát trữ lượng, năng lực khai thác các mỏ và ưu tiên nguồn cung cho các công trình trọng điểm, qua đó hạn chế nguy cơ đứt gãy nguồn cung cục bộ.
Tuy nhiên, yêu cầu hiện nay không dừng ở việc “siết quản lý” mà cần chuyển sang điều phối chủ động. Điều này bao gồm hoàn thiện cơ chế điều chỉnh hợp đồng theo hướng linh hoạt, bảo đảm chia sẻ rủi ro hợp lý; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về VLXD; điều phối quy hoạch khai thác gắn với nhu cầu đầu tư; đồng thời thúc đẩy phát triển vật liệu thay thế và tối ưu hệ thống logistics nhằm giảm chi phí trung gian.
Khi VLXD đã trở thành một biến số vĩ mô, việc điều hành thị trường không chỉ nhằm ổn định giá trong ngắn hạn mà còn phải gắn với mục tiêu kiểm soát lạm phát, bảo đảm tiến độ đầu tư công và duy trì đà tăng trưởng.