Quang cảnh Hội thảo.
Tại hội thảo giới thiệu những đổi mới của ngành công nghiệp VLXD miền Trung trong thời gian qua, đồng thời tạo cơ hội để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp cùng thảo luận, xác định những nhiệm vụ trọng tâm và mục tiêu cụ thể ngành VLXD phải phấn đấu và hướng đến trong thời gian tới.
Hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật để ngành VLXD phát triển bền vững, hiệu quả
Ông Phạm Văn Bắc - Phó Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam phát biểu tham luận tại Hội thảo.
Phát biểu tham luận tại Hội thảo, ông Phạm Văn Bắc - Phó Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho biết: “VLXD có vai trò quan trọng trong xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Giá trị VLXD thường chiếm khoảng 55% - 65% tổng giá trị công trình. Những năm gần đây, ngành VLXD Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng với năng lực sản xuất hằng năm khoảng 125 triệu tấn xi măng, 150 triệu m³ bê tông, 11,7 triệu tấn thép xây dựng, 6,1 triệu tấn tôn mạ, 2,5 triệu tấn ống thép hàn, 840 triệu m² gạch ốp lát, 350 triệu m² kính xây dựng, hơn 40 tỷ viên gạch xây quy tiêu chuẩn (QTC), 26 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, 26 triệu m² đá ốp lát, 25 triệu tấn bê tông nhựa asphalt và hàng trăm triệu m3 cát, đá cùng nhiều sản phẩm khác như vật liệu composite, gỗ, vật liệu lợp… Trong đó, sản lượng xi măng và gạch ốp lát của Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới (xi măng đứng 3, gạch gốm ốp lát đứng thứ 5). Doanh thu toàn ngành sản VLXD (bao gồm sắt thép xây dựng) khoảng 50 tỷ USD mỗi năm, tương ứng khoảng 11-12% GDP quốc gia và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Công nghệ sản xuất VLXD đã có những thay đổi nhanh chóng, tiệm cận với công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới, hướng tới tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.
Chất lượng của nhiều chủng loại sản phẩm VLXD Việt Nam đã đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Mẫu mã sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước, thay thế hàng nhập khẩu. Nhiều sản phẩm VLXD của Việt Nam đã được xuất khẩu ra thị trường quốc tế”.
Ông Phạm Văn Bắc cho biết thêm, bên cạnh các kết quả đạt được, ngành VLXD cũng còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: Hệ thống chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ, quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực VLXD nằm rải rác ở nhiều hệ thống văn bản pháp luật khác nhau do nhiều bộ, ngành cùng ban hành. Một số quy định còn chồng chéo, thiếu nhất quán, chưa rõ ràng, khó áp dụng vào thực tế và khó phối hợp liên ngành; hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật còn thiếu đồng bộ. Phát triển VLXD tại một số địa phương còn dàn trải, công nghệ lạc hậu, sử dụng tài nguyên chưa hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường. Doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực cạnh tranh, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, chậm thích ứng với yêu cầu phát triển. Tỷ lệ vật liệu xanh, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng còn thấp, giải pháp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính chưa được triển khai hiệu quả. Một số thời điểm mất cân đối cung - cầu về VLXD. Sản phẩm VLXD sản xuất trong nước chịu cạnh tranh gay gắt từ hàng nhập khẩu, trong khi xuất khẩu sang các nước khác cũng gặp khó khăn. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm còn thiếu thường xuyên, chưa nghiêm, hiệu lực hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và mức độ quan tâm của một số cấp, ngành về vị trí, vai trò chiến lược của ngành VLXD chưa đầy đủ; sự phối hợp giữa các bộ ngành và địa phương còn thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, cả nước đang triển khai thực hiện quyết liệt các chủ trương lớn của Trung ương về hoàn thiện thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế sâu rộng, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với tăng trưởng “hai con số”, yêu cầu đặt ra đối với ngành VLXD là phải phát triển hiệu quả, bền vững, đáp ứng tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng, đô thị, nhà ở và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thúc đẩy phát triển VLXD xanh để đạt mục tiêu Net Zero 2050
Ông Nguyễn Cửu Loan - Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị TP. Đà Nẵng phát biểu tại Hội thảo.
Tại Hội thảo, ông Nguyễn Cửu Loan - Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị TP. Đà Nẵng cho biết: Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam cần đầu tư khoảng 368 tỷ USD đến năm 2040 để nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt mục tiêu Net Zero. Điều này đòi hỏi ngành xây dựng không chỉ giảm phát thải, mà còn phải nâng cao khả năng thích ứng của hạ tầng đô thị trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng. Một trụ cột quan trọng khác là tài chính xanh và tín chỉ carbon. Khi các yêu cầu ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận vốn và thị trường, doanh nghiệp xây dựng buộc phải thay đổi tư duy từ “tuân thủ” sang “chủ động đầu tư” cho phát triển bền vững. Theo đó, là sức ép đến từ các hàng rào kỹ thuật mới trong thương mại và đầu tư quốc tế. Điển hình là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU, sẽ sớm áp dụng đối với các sản phẩm như xi măng, thép, đây là những mặt hàng cốt lõi của ngành xây dựng. Nếu không xanh hóa quy trình sản xuất, “cánh cửa xuất khẩu” sẽ ngày càng thu hẹp.
VLXD xanh không chỉ là xu hướng, mà là điều kiện cần thiết để công trình đạt các mục tiêu tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải carbon và nâng cao chất lượng sử dụng. Việc công bố minh bạch nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, mức tiêu thụ năng lượng và tác động môi trường của từng sản phẩm được xem là bước quan trọng giúp định lượng “dấu chân carbon” và tính bền vững trong suốt vòng đời công trình. Mỗi sản phẩm VLXD khi được đánh giá đúng theo tiêu chí môi trường sẽ trở thành đơn vị cơ bản của kiến trúc bền vững, nơi yếu tố vật lý, hóa học và năng lượng được kết nối với mục tiêu xã hội và sức khỏe con người.
Có thể nói, việc thúc đẩy VLXD xanh không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là chiến lược phát triển bền vững, góp phần hình thành nền kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống. Sự minh bạch về thông tin sản phẩm, áp dụng công nghệ sạch và tạo cơ chế chính sách hỗ trợ sẽ là chìa khóa để Việt Nam đạt mục tiêu Net Zero 2050, hướng tới một không gian sống xanh, kinh tế xanh, xã hội xanh trong tương lai.