Hoạt động khai thác, chế biến nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Ảnh minh họa.
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến chính sách của Dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng, đồng thời đề nghị đổi tên thành Luật Vật liệu xây dựng để phản ánh đầy đủ phạm vi điều chỉnh.
Các quy định đã điều chỉnh từng khâu nhưng thiếu cơ chế kết nối
Theo Tờ trình, VLXD đang chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật, gồm: Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 cùng các quy định về đất đai, thuế, tín dụng, năng lượng, khoa học, công nghệ và quản lý ngoại thương.
Các quy định hiện hành trong hệ thống pháp luật này đã điều chỉnh từng khâu nhưng chưa hình thành cơ chế kết nối toàn bộ chuỗi VLXD, từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đến nguồn nguyên liệu, sản xuất, lưu thông, sử dụng trong công trình, thu hồi và tái chế.
Sau khi quy hoạch sản phẩm bị bãi bỏ, pháp luật chưa xác định đầy đủ vị trí và mối quan hệ giữa Chiến lược phát triển VLXD, nội dung phát triển VLXD trong hệ thống quy hoạch và Kế hoạch phát triển VLXD của địa phương. Cơ chế dự báo, cảnh báo, theo dõi cung - cầu chưa được quy định ổn định ở cấp luật, trong khi yêu cầu đặt ra là không quay lại ấn định công suất, sản lượng.
Các chính sách đối với vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và phát thải thấp đã được đề cập tại nhiều văn bản nhưng chưa được hệ thống hóa thành một khung chuyên ngành. Chuỗi nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao và thương mại hóa chưa được kết nối rõ với các chính sách hỗ trợ hiện hành.
Luật Địa chất và khoáng sản đã điều chỉnh hoạt động điều tra, quy hoạch, thăm dò và khai thác khoáng sản, nhưng chưa giải quyết đầy đủ việc chế biến, lựa chọn, sử dụng nguyên liệu đúng cấp chất lượng và phát triển thị trường nguyên liệu cho sản xuất VLXD.
Thực tiễn xuất hiện tình trạng thiếu cục bộ cát, đá, vật liệu san lấp khi nhiều dự án hạ tầng triển khai đồng thời. Nguồn cung phụ thuộc liên tỉnh, giá biến động; hoạt động điều tra, quy hoạch, cấp phép và huy động nguồn vật liệu có độ trễ so với nhu cầu. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm còn dư địa công suất lớn nhưng hiệu quả khai thác và thị trường chưa ổn định.
Quy định về VLXD với tư cách sản phẩm, hàng hóa và quy định về vật liệu đưa vào công trình hiện thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau. Việc kế thừa kết quả thử nghiệm, chứng nhận, đánh giá sự phù hợp và dữ liệu chất lượng chưa có nguyên tắc chuyên ngành rõ, dẫn đến nguy cơ kiểm tra, thử nghiệm và cung cấp hồ sơ trùng lặp.
Một số vật liệu như: cát nghiền, cát biển, chất nạo vét, đất đá thải mỏ, quặng đuôi và nguyên liệu thay thế còn thiếu tiêu chuẩn, định mức hoặc hướng dẫn kỹ thuật. Điểm chuyển tiếp từ chất thải, phế thải, phụ phẩm và vật liệu thu hồi sang nguyên liệu hoặc sản phẩm VLXD cũng chưa được làm rõ.
Dữ liệu về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, giá và nhu cầu còn phân tán. Năng lực chuyển đổi số và hậu kiểm chưa đồng đều giữa các địa phương, trong khi chưa hình thành Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu VLXD dùng chung.
Sáu nhóm chính sách được đề xuất
Từ những vấn đề cần giải quyết như trên, Bộ Xây dựng đề xuất 6 nhóm chính sách tương ứng.
Nhóm thứ nhất, hoàn thiện công cụ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển VLXD. Dự án Luật dự kiến xác định rõ vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa ba công cụ này. Chiến lược và kế hoạch chỉ phục vụ định hướng, dự báo, tổ chức thực hiện; không phải điều kiện chấp thuận đầu tư, không dùng để ấn định công suất, sản lượng. Đối với một số ngành vật liệu nền tảng, cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu công cụ quy hoạch phù hợp theo Luật Quy hoạch, bảo đảm liên kết vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, năng lượng, hạ tầng, logistics và thị trường; không khôi phục quy hoạch sản phẩm hàng hóa trước năm 2019.
Nhóm thứ hai, hoàn thiện chính sách phát triển VLXD theo hướng đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên - năng lượng, bảo đảm chất lượng và thúc đẩy vật liệu mới, vật liệu xanh. Chính sách xác định các nhóm vật liệu được khuyến khích, gồm: vật liệu mới, xanh, tái chế, nhẹ, thông minh, tiết kiệm tài nguyên - năng lượng, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và có tính năng đặc thù. Hoạt động nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao và thương mại hóa được kết nối với chính sách hiện hành về đầu tư, thuế, tín dụng, đất đai, khoa học, công nghệ và môi trường. Dự án Luật không thành lập quỹ, không tạo thủ tục xác nhận ưu đãi hoặc điều kiện đầu tư kinh doanh riêng.
Nhóm thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý chế biến, sử dụng nguyên liệu theo cơ chế thị trường; bảo đảm an ninh nguồn cung và điều phối cung - cầu VLXD thông thường. Pháp luật về địa chất và khoáng sản tiếp tục điều chỉnh việc điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác và thu hồi khoáng sản. Luật này tập trung vào chế biến, lựa chọn, sử dụng và thị trường nguyên liệu sau khi nguồn nguyên liệu được hình thành hợp pháp. Doanh nghiệp được chủ động lựa chọn, mua bán, nhập khẩu và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Cơ chế dự báo sẽ theo dõi nhu cầu dự án trọng điểm, nguồn cung hợp pháp, công suất khai thác, sản lượng, giá và khả năng vận chuyển; không phân bổ hành chính nguồn vật liệu.
Nhóm thứ tư, hoàn thiện quy định về sử dụng VLXD trong công trình. Vật liệu phải phù hợp thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu về chất lượng, an toàn, độ bền, công năng, môi trường. Kết quả chứng nhận, thử nghiệm, kiểm định, công bố hợp quy và dữ liệu chất lượng được sử dụng lại khi còn phù hợp. Chỉ kiểm tra bổ sung khi có căn cứ về rủi ro, thay đổi điều kiện sử dụng, yêu cầu kỹ thuật đặc thù hoặc dấu hiệu không phù hợp. Chính sách cũng tạo hành lang kỹ thuật cho vật liệu mới, vật liệu tái chế và lựa chọn vật liệu theo hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, chi phí vòng đời.
Nhóm thứ năm, thúc đẩy thu hồi, tái chế chất thải làm nguyên liệu sản xuất VLXD và sử dụng trong công trình, phát triển kinh tế tuần hoàn. Đất, đá, bùn thải xây dựng, đất đá thải mỏ, quặng đuôi, tro, xỉ, thạch cao, xỉ luyện kim và các nguồn phù hợp có thể được tái chế hoặc sử dụng khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, an toàn và môi trường. Các thủ tục phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành, không hình thành quy trình quản lý chất thải song song.
Nhóm thứ sáu, hoàn thiện quản lý nhà nước, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu VLXD. Cơ sở dữ liệu dùng chung dự kiến gồm: thông tin về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, tiêu chuẩn áp dụng, giá, cung - cầu, thị trường, vật liệu mới, xanh và tái chế. Dữ liệu được kết nối với các hệ thống về xây dựng, địa chất và khoáng sản, môi trường, doanh nghiệp, đầu tư, hải quan. Tổ chức, doanh nghiệp không phải cung cấp lại thông tin cơ quan nhà nước đã có và có thể khai thác hợp pháp. Phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được đề xuất sử dụng để dự báo cung - cầu, theo dõi giá, truy xuất nguồn gốc và kiểm tra theo mức độ rủi ro.
Bộ Xây dựng dự kiến báo cáo kết quả nghiên cứu đến Bộ Tư pháp trước ngày 31/12/2026. Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 15/01/2027. Dự án Luật dự kiến được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2027.